T4 TCM 2+3: Chuyên đề 7: ĐÁNH GIÁ HSTH VÀ GHI CHÉP HỒ SƠ GẮN VỚI TT22-NĂM HỌC: 2017 – 2018

Tháng Năm 7, 2018 6:28 chiều
       TRƯỜNG TH CẢNH DƯƠNG                 Tổ chuyên môn 2 – 3    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
 

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ

ĐÁNH GIÁ HSTH VÀ GHI CHÉP HỒ SƠ GẮN VỚI TT22

Thời gian:  15h30  ngày 26 tháng  4 năm 2018.

     Địa điểm: Phòng Hội đồng trường THCD

     Nội dung:  Triển khai chuyên đề 7: Đánh giá HSTH và ghi chép hồ sơ gắn với TT 22.

     Người báo cáo: đ/c Nguyễn Thị Thái – Giả Thị Thái

NỘI DUNG CỤ THỂ

        Cuối tháng 9/2016, Bộ GD-ĐT ban hành Thông tư 22 sửa đổi, bổ sung một số điều của quy định đánh giá học sinh tiểu học trên cơ sở hoàn thiện thay Thông tư 30. Thông tư 22 có điểm mới, khắc phục những bất cập ở Thông tư 30 và chính thức được áp dụng từ ngày 6/11/2016.

Về đánh giá học sinh và ghi chép hồ sơ có những sửa đổi bổ sung, cụ thể như sau:

  1. Đánh giá học sinh: đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì.

a)Về đánh giá thường xuyên:

Đánh giá thường xuyên về học tập, đánh giá theo 3 mức: Hoàn thành tốt, hoàn thành và chưa hoàn thành. Tăng cường đánh giá bằng lời và ghi nhận xét khi cần thiết.

Đánh giá thường xuyên về năng lực, phẩm chất của học sinh: chia thành 2 nhóm:

  1. a) Năng lực: tự phục vụ, tự quản; hợp tác; tự học và giải quyết vấn đề;
  2. b) Phẩm chất: chăm học, chăm làm; tự tin, trách nhiệm; trung thực, kỉ luật; đoàn kết, yêu thương.

Thông tư 22 cũng quy định thông qua quá trình đánh giá thường xuyên đến giữa và cuối mỗi học kì, lượng hóa mỗi năng lực, phẩm chất thành ba mức:  Tốt, Đạt, Cần cố gắng. Việc lượng hóa này, cho phép giáo viên, cha mẹ học sinh xác định được mức độ hình thành, phát triển năng lực, phẩm chất của học sinh sau một giai đoạn học tập, rèn luyện. Từ đó giáo viên có những biện pháp kịp thời giúp đỡ học sinh khắc phục hạn chế, phát huy những điểm tốt để các em ngày một tiến bộ hơn.

Đối với giáo viên chủ nhiệm, điều này khá phù hợp bởi cô có nhiều thời gian bên học sinh, số lượng học sinh chỉ là học sinh trong một lớp nên có thể nhớ hết đặc điểm của từng em học sinh. Còn giáo viên dạy các môn chuyên có thể phải dạy đến hàng trăm học sinh nếu chỉ ghi chép, nhận xét khi cần thiết thì khi đánh giá định kì, liệu có nhớ được từng học sinh để đánh giá được chính xác ?

b)Về đánh giá định kì:

+ Lớp 1-2-3: có 2 lần vào cuối mỗi học kì.

+ Lớp 4-5: có 4 lần vào giữa và cuối mỗi học kì.

+ Bài kiểm tra định kì có 4 mức độ.

+ Khi đánh giá 1 HS, giáo viên căn cứ vào đánh giá thường xuyên và bản tham chiếu của từng môn học trong từng giai đoạn học tập.

(Nếu bài làm của HS còn nhiều băn khoăn thì GV xin ý kiến Hiệu trưởng để kiểm tra lại).

  1. Ghi chép hồ sơ

Quy định về hồ sơ đánh giá theo Thông tư 22 có sự thay đổi đáng kể. Thay vì có 5 loại như trước đây, nay gồm có: Bảng tổng hợp kết quả đánh giá giáo dục (ghi vào thời điểm giữa và cuối mỗi kì học) và Học bạ (ghi vào thời điểm cuối năm học).

  1. Bảng tổng hợp kết quả đánh giá giáo dục

– Bảng tổng hợp đánh giá kết quả đánh giá học sinh được thực hiện tại 4 thời điểm (giữa kỳ 1, cuối kỳ 1, giữa kỳ 2 và cuối năm học).

– Điểm của bài kiểm tra định kì không dùng để xếp loại HS mà chủ yếu để GV, CMHS kiểm chứng lại việc nhận xét, ĐG thường xuyên quá trình học tập của HS sau một giai đoạn học tập (nửa học kì, học kì, năm học). Nếu kết quả bài kiểm tra định kì chưa phù hợp với các nhận xét, ĐG thường xuyên, GV cần xem xét, tìm hiểu nguyên nhân để có thể điều chỉnh cách dạy, cách hướng dẫn, giúp đỡ HS; có thể cho HS làm lại bài kiểm tra khác để xác định thực chất năng lực HS.

– Tại thời điểm giữa và cuối mỗi học kì, giáo viên ghi kết quả đánh giá vào Bảng tổng hợp kết quả đánh giá giáo dục của lớp như HD ở trang đầu tiên của Bảng tổng hợp….

– GVCN có thể giúp GV chuyên ghi điểm và mức đạt được của môn học đó từ kết quả mà GV chuyển qua.

Lưu ý:

– Đánh dấu tích tích (   )

– Ghi điểm nguyên, không để STP

– Chữ in hoa: T-H-C,…

– Lớp 5 chỉ đánh dấu tích (   ) vào cột “Hoàn thành”

– Cột khen thưởng và lên lớp chỉ làm vào cuối năm, còn 3 lần đánh giá khác không tích.

Mục đích cuối cùng vẫn là vì sự tiến bộ của HS, nhằm giúp HS học được và học tốt.

  1. Học bạ:

–  Học bạ dùng để ghi kết quả tổng hợp đánh giá cuối năm học của học sinh.

– Không tích dấu X vào các ô “Đạt”, “Chưa đạt”

– Không cần ghi mục “Thành tích nổi bật/Những điều cần khắc phục, giúp đỡ“

* Chỉ điều Chỉnh một số nội dung ghi kết quả đánh giá cuối năm học ở mỗi lớp như sau:

–  Mục “I. Các môn học và hoạt động giáo dục”:

+) Trong cột “Nhận xét” dùng bút đen tạo thêm cột “Mức đạt được” liền kề với cột “Môn học và hoạt động giáo dục” ở bên trái. Trong cột mới tạo này: ghi kí hiệu T nếu học sinh đạt mức “Hoàn thành tốt”; H nếu học sinh đạt mức “Hoàn thành” hoặc C nếu học sinh ở mức “Chưa hoàn thành”;

+) Trong cột “Nhận xét”: ghi những điểm nổi bật về sự tiến bộ, năng khiếu, hứng thú học tập đối với các môn học, hoạt động giáo dục của học sinh; nội dung, kĩ năng chưa hoàn thành trong từng môn học, hoạt động giáo dục cần được khắc phục, giúp đỡ (nếu có);

Ví dụ: Biết tiếp thu và hiểu kiến thức môn Toán; thường xuyên giải bài tập cho kết quả đúng, cách trình bày, diễn đạt tốt, thực hiện phép tính nhanh; thể hiện sự yêu thích, hứng thú với các vấn đề liên quan đến môn Toán.

+) Trong cột “Điểm KTĐK” đối với các môn có Bài kiểm tra định kì: ghi điểm số của bài kiểm tra; đối với học sinh được kiểm tra lại, ghi điểm số của bài kiểm tra lần cuối cùng và lưu ý đặc biệt nếu có.

– Mục “II. Các năng lực” và “III. Các phẩm chất”:

+) Trong cột “Nhận xét” dùng bút đen tạo thêm cột vào bên trái “Mức đạt được” liền kề với cột “Năng lực”/cột “Phẩm chất” tương ứng với mục “II. Các năng lực”/mục “III. Các phẩm chất”. Trong cột mới tạo này: ghi kí hiệu T nếu học sinh đạt mức “Tốt”, Đ nếu học sinh đạt mức “Đạt” hoặc C nếu học sinh ở mức “Cần cố gắng” tương ứng với từng nội dung đánh giá về năng lực, phẩm chất.

+) Trong cột “Nhận xét” tương ứng với mục “II. Các năng lực”/mục “III. Các phẩm chất”: ghi sự tiến bộ, các ưu điểm, hạn chế hoặc khuyến nghị (nếu có) về sự hình thành và phát triển một số năng lực/phẩm chất của học sinh.

Ví dụ: Thường xuyên có ý thức tự phục vụ; sẵn sàng lắng nghe, chủ động trao đổi, góp ý về kết quả học tập với bạn; thích tự mình nỗ lực

giải quyết vấn đề.

 – Phần “Khen thưởng“:

Ghi những thành tích mà học sinh được khen thưởng trong năm học.

Ví dụ: Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ học tập và rèn luyện; Có tiến bộ vượt bậc về tự phục vụ và tự quản; Đạt giải Ba IOE cấp huyện;…

  1. d) – Phần “Hoàn thành chương trình lớp học”:

+Ghi Hoàn thành chương trình lớp……/chương trình tiểu học hoặc Chưa hoàn thành chương trình lớp……/chương trình tiểu học; Được lên lớp hoặc Chưa được lên lớp.

+ Ví dụ:

+) Hoàn thành chương trình lớp 2; Được lên lớp 3.

+) Hoàn thành chương trình tiểu học (HS lớp 5).

3 Sổ theo dõi chất lượng giáo dục: Theo TT22/2016, sổ này không có trong quy định.

– Trong đánh giá thường xuyên, ngoài việc dùng lời nói chỉ ra cho học sinh biết được chỗ đúng, chưa đúng và cách sửa chữa, khi cần thiết giáo viên GV ghi chép ngắn gọn những điểm nổi bật/cá biệt của học sinh để làm cơ sở cho việc ghi kết quả Vào bảng tổng hợp (giữa kỳ 1, cuối kỳ 1, giữa kỳ 2 và cuối năm học) và ghi kết quả vào học bạ vào cuối năm học; Để làm minh chứng cho việc đánh giá từng học sinh khi phụ huynh hay CBQL yêu cầu làm rõ.

III. Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện TT22:

  • Thuận lợi:

+ GV chủ động hơn trong việc ghi chép sổ sách.

+ Giáo viên thuận lợi hơn khi đánh giá học sinh;

+ Học sinh có động lực phấn đấu,  không áp lực về điểm số nhưng vẫn biết mức độ học của mình ở đâu.

  • Khó khăn:

+ Như TT30, GV còn khó khăn trong lựa chọn lời nhận xét để không trùng lặp.

+ Trên thực tế GVCN kết hợp với GV bộ môn để thực hiện đúng Thông tư. Nhưng thực chất làm nghiêm theo TT22 thì mỗi lớp không có hoặc rất ít HS xuất sắc. Phải nới tay ở các môn phụ.

+ Khó xếp loại phẩm chất chung, năng lực chung khi xét khen thưởng vì không có căn cứ (Vì dụ: Năng lực: T + Đ + C = ?; phẩm chất: T + Đ + C + C =?).

+ Phụ huynh đánh giá học sinh còn hạn chế, chủ yếu thông qua GV để biết năng lực học của con và thông qua điểm số của đánh giá định kì.

Người viết báo cáo

 

                                                                                    Nguyễn Thị Thái và Giã Thị Thái