Giới thiệu

  LỊCH SỬ TRƯỜNG TIỂU HỌC CẢNH DƯƠNG

˜ 

Xã Cảnh Dương ngày nay có trên 8000 dân, sống quây quần trên 150 ha. Đất chật, người đông.

Cảnh Dương là làng kinh tế biển, nằm ở tả ngạn cửa biển sông Roòn. Hoành Sơn, vùng Roòn,

Cảnh Dương là đầu cầu, nơi giao thoa giữa hai nền văn hóa Chăm Pa và Đại Việt.

Cảnh Dương có cảnh quan” Sơn thủy hữu tình”, ở cửa rừng, cửa biển, nằm kẹp giữa hai con

đường thủy, bộ, đầu mối giao thông xuyên Việt.

“ Từ thuở mang gươm đi mở cõi”, Cảnh Dương là nhân chứng lịch sử trường tồn. 370 năm, khai sơn, lấn biển, mở nghiệp, dựng làng.

370 năm đi đầu trong những biến thiên lịch sử. Người Cảnh Dương tự hào về quê hương địa linh, nhân kiệt “Kể từ khi Làng ta có tên Làng, thì Sa Long vây bọc. Nước biển chầu về. Núi sắp minh đường. Cây đầy huyền vũ. Lại thêm điển lí khuyên răn. Phong tục thuần hậu. Chính hóa canh tân. Người của đều vượng, Viên chức Châu làng đều là người Văn vật”( Lời mở đầu hương ước cổ).

Nhân tài là nguyên khí quốc gia. Cảnh Dương có truyền thống hiếu học. “ Một dải đất Hoàng Sa kỳ thú, mênh mang, dằng dặc; là nơi đứng đầu một châu. Tinh hoa tích tụ. Biến hóa rừng văn. Lê triều cống đồ. Nguyễn Triều cử tú. Trước hô, sau ứng, liên tiếp, vinh quang.” (Trích văn hội tích bi ký) Cảnh Dương đã được dân gian hóa trong câu cách ngôn” Sơn hà cảnh thổ văn võ cổ kim” của Quảng Bình.

               TRƯỜNG TIỂU HỌC ROÒN TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM

Đầu thế kỉ XX, thực dân Pháp bình định xong các cuộc khởi nghĩa của phong trào Cần Vương. Chúng tiến hành khai thác thuộc địa lần thứ nhất.

Năm 1915 chúng bỏ kì thi chữ Hán ở Bắc kỳ.

Năm 1917 chúng bỏ luôn kỳ th chữ Hán ở Trung kỳ.

Nhà trường thực dân dạy bằng chữ Pháp và chữ quốc ngữ mở ra trong toàn quốc, nhằm đào tạo những người giúp việc cho Nhà nước bảo hộ.

Ở Cảnh Dương nền Hán học cũng diễn ra trong cảnh chợ chiều. Tấm bia “Văn hội tích bi kỷ” ghi danh 47 nhà khoa bảng dưới Triều Nguyễn, dựng năm Thành Thái thứ 12 ( 1900 ) như đốm lửa, ánh hào quang cuối cùng, của nền Hán học Cảnh Dương trước khi lịm tắt.

Năm 1918 ông Đỗ Phú Túc làm quan ở Bắc về hưu. Vốn là ông quan được tiếng thanh liêm, nặng tình quê hương, giàu tư tưởng cải cách, ông thường nhắc nhủ lớp trẻ:

Tân học phong trào khai sĩ hóa

Anh niên văn trận khoái thư cừu

Có nghĩa là: “Phong trào Tân học đã mở mang cho kẻ sĩ thì trong trường văn trận bút tuổi trẻ thích thú chuyện học và chuyện báo thù cho nước”

( Câu đối do Ngô Thời Đôn dịch )

Ông đứng ra vận động thành lập trường Roòn. Bằng ảnh hưởng của mình, viên công sứ Quảng Bình, ký quyết định thành lập trường. Trường mang tên Trường Tiểu học Pháp Việt Roòn, trường thu hút học sinh nhiều làng ở 3 phủ huyện: Tuyên Hóa, Quảng Trạch, Bố Trạch. Số đông là học sinh Cảnh Dương và vùng Roòn. Trường Tiểu học Roòn tồn tại 27 năm ( 1918 – 1945 ) trải qua 4 đời hiệu trưởng thường gọi là ông Đốc:

– Ông: Nguyễn Văn Tính                      Nghệ An

–  Ông: Nguyễn Đình Cầm                    Thừa Thiên Huế

–  Ông: Nguyễn Tri Khiết                      Thanh Hóa

– Ông: Nguyễn Đình Niệm:                  Nghệ An

Hàng chục gia đình thầy giáo được Nhà nước bổ dụng về dạy ở trường Roòn. Gia đình, con cái lớn lên học hành có quan hệ mật thiết với dân Cảnh Dương trở thành những kỉ niệm lâu bền đi suốt cuộc đời của họ. Như: Gia đình Thầy Hiến, Thầy Nguyên, Thầy Khâm, Thầy Bút, Thầy Niệm…

Trường Tiểu học lúc đầu mở một vài lớp ở đình làng. Nhờ các tài gia hảo tâm như: Ông Cửu Vẹt (Nguyễn Quyên); Cửu Dòn (Nguyễn Ngoạn); Cửu Lãng (Nguyễn Điệt) bỏ tiền của công ra giúp sức. Một ngôi trường ngói khang trang. Trong cửa chính, ngoài cửa chớp, Đứng ở đầu làng, ngoảnh mặt ra sông Roòn. Tô điểm cho cảnh quan làng xã CảnhDương thêm tươi đẹp.

Tại Quảng Bình trong 376 làng lúc đó thì trung bình 15 làng có một trường Sơ học. Riêng Cảnh Dương có một trường Tiểu học ( trong 3 trường đầu tiên của Quảng Bình) là một ưu ái, ngoại lệ.

Cảnh Dương trở thành điểm sáng, nhạy bén, chuyển hướng từ loại chữ vuông sang chữ quốc ngữ. Từ nền Hán học trì trệ sang nền Tân học, tiếp cận với nền văn hóa phương Tây.

Trường tiểu học Roòn đã đào tạo một lớp công chức, bổ dụng vào các ngạch như: Thông phán, Ký sự, Thừa phái, Canh nông, Công chính, Hỏa xa, Kỷ nghệ…Số đông là lớp nhà giáo Tân học công lập và hương sư.

Lần đầu tiên trường Tiểu học Roòn đã thu hút một lực lượng nữ sinh vào học làm thay đổi quan điểm trọng nam khinh nữ.

Trường tiểu học Roòn mục đích là đào tạo công chức làm thuê cho bộ máy thực dân, nhưng khách quan nhà trường cũng là nơi ươm mầm cách mạng. Từ cuộc vận động đòi thả nhà chí sĩ Phan Bội Châu, đưa đám tang Phan Chu Trinh năm 1925 -1926 đến cuộc vận động ủng hộ Xô Viết Nghệ Tĩnh(1930-1931). Phong trào đòi dân sinh, dân chủ, đón tiếp phái đoàn Mặt trận bình dân pháp sang Đông Dương( 1936-1937) mà đỉnh cao là cuộc bãi khóa vì tên Thương Chánh Roòn làm nhục thầy giáo.

Điều quý nhất là khi Cách mạng Tháng tám thành công thì tất cả thấy trò Trường Tiểu học Roòn đều đứng vào hàng ngũ dưới cờ cách mạng và họ được bồi dưỡng trở thành cán bộ cốt cán trong chính quyền, các nhà chính trị, quân sự, các nhà khoa học, các văn nghệ sĩ.

–  Bốn đồng chí đảng viên đầu tiên thành lập Chi bộ cộng sản vùng Roòn là Ngô Khiêm, Trần Thị Tính, Nguyễn Ngọc Bơn, Nguyễn Túy là học sinh trường Roòn.

Đội ngũ thầy giáo tân học lão thành của Cảnh Dương và Quảng Bình là: Ông Đồng Xuân Cát, Nguyễn Lược, Nguyễn Đức Hóa, Nguyễn Đình Quán, Lương Duy Tâm, Trần Kháng, Trần Khảng, Nguyễn Đình Thúy “dạy quốc học Huế” Nguyễn Ngọc Bơn, Nguyễn Ngọc Lơn, Nguyễn Duy Khuyên, Trần Thị Tính, Lê Đài, Nguyễn Tiếu.v.v.

Lớp anh hùng, liệt sĩ là học sinh trường Roòn đã hy sinh vẻ vang vì Tổ Quốc, tiêu biểu có: Anh Nguyễn Liểu học sinh trường Hồng Đức- Huế ra đi trong đoàn quân nam tiến, hy sinh ở Nam kỳ. Anh Đậu Đình, là du kích bảo vệ làng hi sinh trận đầu trên đồi Mũi Vích. Ông Trương Niểu, chủ tịch xã Hòa Trạch hi sinh trận càn 1953 giữa lòng Cảnh Dương. Các thầy giáo Nguyễn Duy Khiêm, Phạm Đình Thảo hi sinh ngày 28/4/1954 đang dự hội nghị giáo dục tại Pháp Kệ.

Liệt sĩ Lê Đài- Bí thư tỉnh ủy Phú Yên được kẻ thù coi như là Trần Phú thứ 2.

Liệt sĩ Đinh Thúy-nhà nhiếp ảnh tài ba-Phó ban Thông tấn xã giải phóng Miền Nam hi sinh năm 1967 trên đường đi đưa tin Đại hội Anh hùng chiến sĩ Miền Nam.

Các nhà lãnh đạo chính trị:

– Đặng Gia Tất- Thường vụ tỉnh ủy Quảng Bình.

– Hoàng Đài – Phó ban khoa giáo trưng ương

Các nhà khoa học:

– Giáo sư Trần Đình Miên- Tổng biên tập tạp chí Nông nghiệp Việt Nam có công trình khoa học được giải thưởng Hồ Chí Minh.

– Giáo sư Nguyễn Đức Lộc- Viện trưởng Viện sân khấu VN

– Tiến sĩ Nguyễn Đình Tranh- học giỏi được bằng đỏ ở Liên Xô, Thứ trưởng Bộ Điện Than, người thiết kế công trình Sông Đà.

* Chị em phụ nữ có:

– Trần Thị Xuyến – Đại biểu Quốc hội

– Phạm Thị Tuyết – Chiến sĩ thi đua 1953, Ty trưởng Ty Y Tế Hà Nam Ninh- thường vụ hội CTĐVN

– Trần Thị Tính – nguyên Vụ trưởng vụ mẫu giáo – BGD- ĐT

* Hàng chục cán bộ Trung tá, Đại Tá ở các Binh chủng khắp các chiến trường.

Chưa có một thống kê, tập hợp hết hàng trăm gương mặt, hàng trăm cuộc đời mang tuổi thơ của trường Roòn ra đi. Họ sống hết mình và chết hết mình cho Tổ quốc quyết sinh. Tên tuổi lớp trí thức tân học xứng đáng làm  vẻ vang cho mảnh đất truyền thống và là một thành tố của quê hương Cảnh Dương anh hùng ngày nay.

                      TRƯỜNG TIỂU HỌC ROÒN SAU CÁCH MẠNGTHÁNG 8

Cách mạng Tháng 8 thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, nền giáo dục nô dịch bắt đầu chấm dứt. Ngày đầu cách mạng, đất nước ngàn cân treo sợi tóc. Trước nạn đói, nạn dốt, nạn ngoại xâm, Đảng và Nhà nước ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đã đề ra 3 nhiệm vụ cấp bách: diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm.

Ngày 25/11/1945 Ban chấp hành Trung ương Đảng chỉ thị hai nhiệm vụ không tách rời là Kháng chiến và Kiến quốc.

Ngày 14/6/1946 Bộ Quốc gia giáo dục có Nghị định đặt tại mỗi Tỉnh và Thành phố một chức thanh tra tiểu học. Ở Quảng Bình ông Lương Duy Tâm được cử làm thanh tra tiểu học. Ông Đinh Hữu Suyền và Trần Kháng làm phó thanh tra.

Ở Cảnh Dương Trường tiểu học Roòn cũng được mở cửa, các thầy giáo: Ông Nguyễn Đình Quán, Ông Nguyễn Can,  Ông Nguyễn Duy Khuyên, Bà Trần Thị Tính.

Ngày 15/9/1945 Hồ Chủ tịch gửi thư cho học sinh toàn quốc nhân ngày khai giảng, Người nói: “ Non sông Việt Nam có vẻ vang hay không! Dân tộc Việt Nam có sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không! Chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu.”

Cuối năm 1945-1946 kỳ thi Tiểu học đầu tiên dưới chế độ Việt Nam DCCH được tổ chức. Kỳ thi này được gọi là ân khoa, thu hút tất cả học sinh đã bỏ học vì nhiều lí do. Bài vở được đem về tỉnh chấm. Bà Trần Thị Tính làm chánh chủ khảo.

Ngày 27 tháng 3 năm 1947 giặc Pháp đổ bộ vào Quảng Bình. Cuộc kháng chiến thần thánh lần thứ nhất bắt đầu. Trường tiểu học Roòn bị tiêu thổ kháng chiến. Nhà trường tiểu học do các thầy giáo Nguyễn Đình Tranh, Trần Khảng, Nguyễn Can sơ tán vào nhà thờ các xóm. Lớp 4 lúc đầu học ở xóm Đông Dương, sau ca nông tàu giặc bắn vào làng. Lớp học rút về xóm Thượng Võ. Từ đây nhà trường kháng chiến gắn bó với sự nghiệp kháng chiến của toàn dân. Thầy giáo dân nuôi, học sinh thiếu thốn đủ đường; Giấy viết bằng giấy bồi, giấy nứa; bút tre, mực lọ, túi vải, nón lá … là hình ảnh thân quen của học sinh thời kháng chiến.

Nền giáo dục mới thực hiện phương châm: “Dân tộc, khoa học, đại chúng”

Nền giáo dục mới tôn trọng nhân phẩm, rèn luyện chí khí, phát triển nhân tài.

Nền giáo dục mới giảng dạy bằng Tiếng Việt từ vỡ lòng đến đại học.

Trường tiểu học Cảnh Dương do thầy giáo Diệp Hinh làm Hiệu trưởng. từ đây ở Cảnh Dương có  trường cấp 1 và cấp 2, chung trường, chung công đoàn, chung chi bộ đảng. Các vị hiệu trưởng thời kỳ này có:

–         Ông Phạm Chiển: 1950 – 1955

–         Ông Diệp Hinh:  1956 – 1960

–         Ông Nguyễn Văn Thiều: 1960 – 1965

Từ năm 1965 – 1975 là giai đoạn nhà trường chống Mĩ cứu nước. Bị thất bại ở Miền Nam, từ 1965 đế quốc Mĩ mở chiến tranh phá hoại ra miền Bắc. Đây là cuộc chiến tranh tàn bạo nhất trong lịch sử. Cảnh Dương, vùng Roòn là trọng điểm đánh phá ác liệt. Đảng bộ chủ trương cho dân sơ tán khắp các xã ở vùng Roòn. Các cơ sở sản xuất di rời theo yêu cầu phục vụ kháng chiến. Lò chàm về Quảng Châu, xưởng tơ về Tùng Lý, lò ngói về Đất Đỏ. Nhà trường cũng biến hóa theo các tuyến dân cư. Nhà trường vừa đảm bảo giảng dạy, vừa bảo đảm an toàn cho cả thầy và trò. Trường phải xé lẻ ra nhiều bộ phận. Các lớp học chia nhỏ, học theo ca kíp, lớp học xuống hầm đất, có giao thông đường  hào, đường rút theo các hướng. Học sinh đi học phải ngụy trang, đi theo thứ tự từng em một.

10 năm chống Mỹ cả dân tộc gian lao, 10 năm thế hệ thanh niên sẻ dọc Trường sơn đi đánh Mỹ, trong đó có học sinh thân yêu của chúng ta. Theo thống kê của ban chính sách xã trong số 248 Liệt sĩ yên nghỉ ở nghĩa trang quê nhà, có 99 liệt sĩ hi sinh trong chống Pháp, 149 Liệt sĩ hi sinh thời chống Mỹ, riêng học sinh của chúng ta có 58 người.

Cuộc tiến công nổi dậy của quân và dân ta mùa xuân 1975, chính quyền Sài gòn bị sụp đổ. Non sông thu về một mối. Trường Cảnh Dương về quê, sau hiệp nghị Pa Ri năm 1973 cho đến năm 1975 là về hết.

Hai mươi tám năm, giáo dục phát triển trong hòa bình thống nhất thuận lợi cũng nhiều, khó khăn cũng lắm:

–         Đất nước vừa bước ra khỏi chiến tranh

–         Chiến tranh Biên Giới

–         Nhập tỉnh – tách tỉnh

–         Nền kinh tế trì trệ trong chế độ quan liêu, bao cấp

Cho đến năm 1986 sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, đất nước được đổi mới, giáo dục càng thêm khởi sắc.

Trường tiểu học do quỹ OĐA xây dựng năm 1997. Trường trung học do nhân dân xây dựng năm 1996. Cơ sở vật chất khá hơn. Đội nghũ giáo viên được chuẩn hóa. Phong tròa cải cách giáo dục được sâu rộng. Nhà trường phát triển về số lượng và chất lượng.

Về chất lượng năm nào nhà trường cũng có học sinh giỏi văn hoá các cấp, học sinh giỏi  thi Tiếng Anh qua mạng cấp Tỉnh; cấp Quốc gia, Hội thi  Hội khoẻ Phù Đổng .  Trường nhiều năm liên tục đạt danh hiệu Tập thể Lao động xuất sắc.

– Năm 1963 trường tiểu học được tặng cờ Bắc Lý

– Năm 1982 trường trung học được Bộ Giáo Dục – Đào tạo tặng bằng khen

– Năm 1998 trường tiểu học đạt chuẩn Quốc gia Mức độ I.

– Năm 2007 trường tiểu học đạt chuẩn Quốc gia Mức độ II.

– Năm 2011 và năm 2012 trường tiểu học được công nhận đạt chuẩn Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi Mức độ 2.

Từ đây kỷ cương nhà trường đã đi vào nề nếp; học sinh ngoan, lễ phép; mang mặc đồng phục, sách vở đầy đủ; học sinh được học 2 buổi/ngày, học các môn tự chọn: Tin học, ngoại ngữ Tiếng Anh; cơ sở vật chất ngày càng được tăng trưởng, có đủ hệ thống phòng học kiên cố và các phòng chức năng; khuôn viên nhà trường cao ráo, thoáng mát; cảnh quang nhà trường xanh-sạch-đẹp; bộ mặt nhà trường thật sự đã khởi sắc.

Ban lãnh đạo nhà trường qua các năm của thời kì này:

–         Ông Tưởng Triển                      1976  –  1980

–         Ông Phạm Ngọc Thông            1980  –  1983

–         Ông Phạm Văn Điều                 1983  –  1987

–         Ông Tưởng Triển                      1987  –  1990

–         Ông Trần Ngọc Khoa               1990  -2007

–         Đầm Công Văn                           2007

–          Bà Trương Thị Thu                     Nay

Trường tiểu học:

–         Ông Nguyễn Văn Hiến             1972 – 1975

–         Ông Lê Văn Hiển                     1970 – 1975

–         Bà Nguyễn Thị Hợi                  1976 – 1984

–         Ông Tưởng Văn Tư                  1990 – 1996

–         Bà Võ Thị Tam                         1996 – 2006

–         Ông Phạm Bá Lộc                     2006 – 2014

–         Ông Nguyễn Đình Sơn              1/ 2015 – nay

Thành quả của nhà trường 50 năm cách mạng qua nhiều giai đoạn chiến tranh và hòa bình, nhà trường đã đào tạo ra một lớp công dân, chiến sĩ xây dựng làng, bảo vệ nước.

Hàng trăm người đã ngã xuống vì quê hương. Hàng trăm anh chị em có trình độ từ cử nhân , thạc sĩ, tiến sĩ đang đảm nhiệm nhiều chức trách trong guồng máy nhà nước. Có nhiều người thành đạt như:

Anh Phạm Bá Hạt – anh hùng lực lượng vũ trang thời chống Mĩ

Anh Nguyến Đăng Sâm – Tổng giám đốc công ty dịch vụ vận tải 2 – Miền Trung-  Anh hùng lao động trong thời kì đổi mới. Người rất tâm huyết với quê hương.

Anh Nguyễn Văn Nhượng – Nguyên tỉnh ủy viên –  đại biểu Quốc Hội khóa XI.